Hành trình tìm kiếm ngôi làng nổi trên những bè cỏ trên hồ Inle

NGÔ LY KHA - Ảnh: Kha 08:00 10/02/2019

Tôi đến Myanmar để tìm kiếm một ngôi làng nổi được kết bằng những bè cỏ nằm giữa hồ Inle. Ngôi làng có vài chục nếp nhà, được tô điểm bằng những luống hoa rực rỡ trước thềm và những cánh hải âu bay rợp trên sóng nước.

Đường đến Inle

Chúng tôi rời Bagan, cố đô của Myanmar vào một buổi chiều tà khi mặt trời đã giấu mình sau những ngọn tháp. Chuyến xe đêm leo dốc mệt nhọc, nhưng cả anh em tôi đều ngủ say sau một ngày vật vã đi tìm hộ chiếu bị đánh rơi của một người trong nhóm. Đến gần 3 giờ sáng, xe dừng thả khách giữa đường, chúng tôi được đưa lên một chiếc xe lam trung chuyển đến khách sạn. Khung xe trống trải và gió lạnh bất ngờ lùa vào người khiến tôi run bần bật. Vùng hồ Inle nằm ở ban Shan, phía Nam Myamnar, với độ cao 800m so với mặt nước biển nên có khí hậu ôn hòa và ban đêm nhiệt độ xuống rất thấp. Ba anh em tôi chưa kịp chuẩn bị cho tình huống này, nên vội vàng mặc thêm áo ấm và cùng đắp chung một chiếc xà rông vừa mua ở Bagan.

4 giờ sáng, tôi về khách sạn. Lẽ ra, chúng tôi có thể ngồi ngủ ở sofa phòng tiếp tân chờ đến giờ “check-in” nhưng nhiệt độ quá lạnh nên cả nhóm quyết định trả thêm tiền để được nhận phòng sớm. Khách sạn tôi chọn được đánh dấu 3 sao, có hồ bơi và phòng ốc rộng rãi nhưng nội thất và tiện nghi vẫn khá sơ sài. So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, giá phòng ở Myamar khá đắt đỏ (từ hơn 1,4 triệu/phòng 2 người) vì dịch vụ du lịch mới phát triển từ khi đất nước này mở cửa. Chúng tôi cố ngủ lấy sức để sớm mai ra bến tàu sớm.

Du ngoạn trên hồ

Từ mờ sáng, các tăng ni tu theo phái Nam tông đã bắt đầu lên đường khất thực. Tiếng mõ khoan thai cùng những cánh áo đỏ nâu chậm rãi diễu qua những con phố. Chúng tôi đi bộ ra bến tàu, ăn sáng qua loa bằng một loại súp rau củ có độn thêm da lợn chiên. Người dân Myanmar ăn uống rất đạm bạc, hầu hết những bữa ăn truyền thống đều có nhiều ngũ cốc, rau củ nhưng lại rất ít cá thịt.

Bến tàu nhộp nhịp với hàng chục chiếc thuyền nằm nối đuôi nhau, tiếng kỳ kèo mặc cả của những người môi giới và tiếng máy nổ nhộn nhịp cả một khoảng kênh đào. Tôi gặp Max và Alien, đôi bạn trẻ người Pháp vừa thuê được một chiếc thuyền với giá rất hời (chừng 300,000 đồng/ngày) và rất vui lòng cho ba anh em tôi chia sẻ cùng. Tôi ngồi trên ghế gỗ đầu mũi thuyền, háo hức như một đứa trẻ sắp được gặp một món đồ chơi mình mơ ước.

Hồ Inle có diện tích 116 km², là hồ nước ngọt lớn thứ nhì Miến Điện. Hồ nằm giữa những ngọn núi và sâu khoảng 2,1 m với điểm sâu nhất 3,7m vào mùa khô nhưng mùa mưa độ sâu có thể tăng thêm 1,5m. Thuyền rời làng NyaungShwe chừng 10 phút thì ra đến giữa hồ. Chúng tôi lọt thỏm giữa một vùng sóng nước mênh mang với những dãy núi mờ sương bao phủ đường chân trời. Mây trắng và trời xanh in bóng trên mặt nước; gió thổi mang theo không khí tinh sạch của đất trời. Thỉnh thoảng lại có một tiếng cá quẫy đuôi hay một chú hải âu bay vụt qua mũi thuyền. Khung cảnh kỳ vĩ và bình yên như những thước phim về thiên nhiên hoang dã. Ngay cả sự xuất hiện của một người chèo thuyền đơm cá bằng chân theo truyền thống của địa phương cũng lặng lẽ và hài hòa như một phần tất yếu của mặt hồ.

Những cánh đồng nổi

Đi thêm vài chục phút, tôi bắt gặp những cánh đồng cà chua xanh mướt mọc lên từ giữa mặt hồ. Lạ lùng thay ở một nơi không có đất canh tác, nhưng lại cho sản lượng cà chua cao nhất nhì Myanmar. Hình thức thủy canh của người dân địa phương vùng hồ Inle khá đặc biệt, họ dùng thân lục bình kết thành những bè nổi, vớt rong dưới lòng hồ để ủ thành chất vùng và gieo trồng trên trên những luống “đất” nổi được cố định bằng những cọc tre. Họ trồng hoa và rất nhiều loại rau quả nhưng cà chua được xem là “đặc sản” của vùng đất này. Mỗi ngày, có hàng trăm chuyến thuyền chở cà chua cập bến vào làng, và cà chua Inle được chở đi tiêu thụ trên khắp cả nước.

Qua những cánh đồng và xóm nhà cao chân mọc lên từ mặt nước, chúng tôi đến với một khu chợ địa phương có nhiều nông sản và hàng lưu niệm thủ công mỹ nghệ. Tôi chết mê với một chiếc đồng hồ nhỏ hình quả cầu pha lê có giá 60 đô Mỹ, nhưng đã kịp thời kiềm chế. Cuối cùng Max mua cho cô bạn gái một bó bông súng tím, còn anh trai kết nghĩa mua cho tôi một nải chuối cơm (thật lãng mạn!). Vì bó hoa này tôi đã vô tình khiến Max và Aline cãi nhau vì Max khoe khoang ngày nào cũng tặng hoa cho bạn gái, còn Aline khẳng định Max chỉ tặng cô mỗi năm một lần, mà có năm vẫn quên.

Thuyền tôi tiếp tục rẽ sóng để đi đến một ngôi nhà của những người dân tộc cao cổ. Các cô gái được bắt đầu đeo kiềng đồng để… làm đẹp khi vào tuổi dậy thì và những vòng kiềng sẽ được nối dài thêm qua nhiều năm cho đến cả khi dài gang tay. Nhà của người cao cổ hay nơi sản xuất thuốc lá quấn bằng lá trầu và xưởng dệt vải từ nhựa cuống lá sen… mà người lái thuyền dẫn chúng tôi đi đều là những mô hình đã được du lịch hóa. Những làng nghề cũ được phục dựng cho du khách ghé thăm nhưng người dân không còn sản xuất đại trà vì kỹ thuật thô sơ và năng suất thấp.

Ngôi làng mong đợi

Tôi hỏi thăm tất cả những hướng dẫn viên người Myanmar và những người dân địa phương nơi tôi gặp nhưng không ai biết ngôi làng nổi trên những bè cỏ. Có lẽ ngôi làng nằm ở một nơi hoàn toàn cách biệt hoặc người dân trong làng đã được chuyển lên bờ vì sự an toàn trong những mùa mưa lũ. Tôi không biết nên buồn hay nên vui cả trong hai kịch bản này. Dĩ nhiên tôi tham lam muốn nhìn ngắm những hình ảnh đẹp của một làng hoa bồng bềnh trên mặt nước, nhưng xót xa trước cuộc sống thiếu thốn và bếp bênh của người dân cùng những em bé chưa bao giờ được đến lớp. Và rồi tôi tự an ủi mình bằng kịch bản thứ hai, rằng họ đã êm ấm và an vui ở một vùng đất gần bờ.

Buổi chiều trên mặt hồ vừa rực rỡ huy hoàng lại vừa mênh hông cô quạnh. Thuyền của du khách đã khởi hành về bến, chỉ còn chơ vơ vài con thuyền nhỏ của người dân địa phương đi làm đồng hoặc chở rau quả vừa thu hoạch. Chúng tôi ăn trưa muộn (vài lúc hơn 3 giờ chiều) trên một nhà hàng hai tầng nổi giữa hồ, nơi có thể nhìn bao quát những nếp nhà mái tôn lưa thưa chạy dọc theo những hàng cột điện và mây trắng nhởn nhở trên con sóng bạc. Bữa cơm có món rau bí xào, thịt kho và cá rô nướng. Để có món cá rô nướng, anh trai kiến trúc sư đã phải dùng đến giấy bút để vẽ một lò than và vỉ cá (cá nướng), rồi vẽ thêm một cái chảo có bên trên (cá chiên). Sau đó đánh dấu “check” vào vỉ cá và đánh dấu X chéo vào cái chảo. Thế là bạn cô gái phục vụ không biết nói tiếng Anh đã cười bẽn lẽn gật đầu. Thật vi diệu!

Chiều tà, thuyền tôi lướt giữa những luống cà chua đầy trái non hăng hăng mùi lá lẫn mùi bùn. Có cô bé chừng lên 10 vừa địu em vừa chèo thuyền bằng một chân đi ngược dòng nước. Xa xa là những nếp nhà chân cao với đám lục bình tô điểm quanh sân và một thân gỗ tròn thả nổi làm cổng vào. Những em bé nghich nước dưới mái hiên, những bà mẹ vừa giặt giũ và rôm rả nói cười. Tôi chưa gặp được ngôi làng mà tôi ước mong, hoặc có thể tôi đã gặp rồi. Là khung cảnh bình yên ngay trước mặt tôi đây chứ đâu nữa.